Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, quán triệt Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, yêu cầu đổi mới căn bản tư duy và thể chế quản trị xã hội được đặt ra theo hướng bao trùm, hiện đại và bền vững, khẳng định con người là trung tâm, chủ thể và động lực của chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Các em học sinh tại điểm cầu Trường Phổ thông nội trú tiểu học và trung học cơ sở Đồng Đăng, xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn tặng hoa chào mừng Tổng Bí thư Tô Lâm _Ảnh: VGP
Các quyền về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của con người, bao gồm quyền được học tập, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, quyền làm việc, có nơi ở hợp pháp... là các quyền cơ bản đã được khẳng định trong Hiến pháp. Trong bối cảnh thế giới và khu vực biến đổi sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và rủi ro an ninh phi truyền thống, yêu cầu hoàn thiện chính sách xã hội tại Việt Nam đặt ra ngày càng cấp thiết, không chỉ nhằm bảo đảm an sinh tối thiểu, mà còn hướng tới nâng cao phúc lợi toàn dân và quản lý phát triển xã hội bền vững.
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về coi con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển, việc hoàn thiện chính sách xã hội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa chiến lược lâu dài, đồng thời là yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước hiện nay. Nghị quyết số 42-NQ/TW đã xác lập bước chuyển quan trọng trong tư duy và cách tiếp cận phát triển, từ “bảo đảm và ổn định” sang “ổn định và phát triển”, đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững đất nước(1).
Định hướng và quan điểm về chính sách xã hội trong phát triển bền vững
Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội được hình thành và không ngừng hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng và hệ thống văn kiện. Theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, an sinh xã hội vừa là chính sách hỗ trợ mang tính nhân đạo, vừa là quyền cơ bản của công dân, là trụ cột bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và ổn định chính trị - xã hội lâu dài. Trong thực hiện chính sách xã hội, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm và sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và người dân(2).
Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 10-6- 2012, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, “Về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt nền tảng cho cách tiếp cận tổng thể, yêu cầu kết hợp hài hòa giữa an sinh xã hội với các chính sách xã hội khác nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội(3). Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, qua đó đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội theo hướng toàn diện, hiệu quả và bền vững(4). Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 42-NQ/TW đã khẳng định rõ định hướng xây dựng hệ thống chính sách xã hội tiến bộ, công bằng, được đổi mới đồng bộ cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới(5).
Xuyên suốt chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước là thông điệp nhất quán: chính sách xã hội phải hướng tới toàn dân, bảo đảm tính toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm và bền vững; không để ai bị bỏ lại phía sau. Điều đó đòi hỏi tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đa tầng; mở rộng và nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội đối với nhóm dễ bị tổn thương; đồng thời, không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ công thiết yếu, như y tế, giáo dục, nhà ở và môi trường sống. Cụ thể hóa định hướng này, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/ TW đã được ban hành, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu trọng tâm trong phát triển chính sách xã hội và an sinh xã hội, làm cơ sở cho tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống chính trị(6).
Quan điểm trên đã hình thành định hướng xuyên suốt: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết trung tâm trong chính sách xã hội, đồng thời huy động sự tham gia của thị trường, tổ chức xã hội và người dân, bảo đảm mọi người đều được thụ hưởng thành quả phát triển, qua đó tạo nền tảng xã hội vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Thành tựu nổi bật trong thực hiện chính sách xã hội
Trong 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ năm 1986), chính sách xã hội của Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá toàn diện, có ý nghĩa chiến lược, trở thành trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố nền tảng phát triển bền vững của đất nước. Đặc biệt, kể từ khi Nghị quyết số 42-NQ/TW được ban hành và tổ chức triển khai thực hiện, hệ thống chính sách xã hội từng bước được hoàn thiện, gắn chặt với quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Chính sách ưu đãi người có công khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống chính sách xã hội
Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là minh chứng sinh động cho trách nhiệm chính trị và sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với những hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc của hàng triệu gia đình. Chủ trương, chính sách, như cấp thẻ bảo hiểm y tế 100%, hỗ trợ nhà ở, khám, chữa bệnh miễn phí, đào tạo nghề, vay vốn ưu đãi, tạo việc làm, chăm lo cho con em người có công... - tất cả đều thể hiện trách nhiệm và đạo lý sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với những lớp người đã đóng góp, hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Ngày 1-7-2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2024/NĐ-CP “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/ NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ” điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi từ 2,055 triệu đồng lên 2,789 triệu đồng (tăng 35,7%, mức cao nhất trong nhiều thập niên), cùng với việc tổ chức thực hiện chính sách đầy đủ, kịp thời, công khai, minh bạch đã nâng cao rõ rệt đời sống của người có công; không còn hộ người có công thuộc diện hộ nghèo. Từ 1-1-2023 đến 16-7-2025, Nhà nước đã chi trả trợ cấp cho hơn 1,03 triệu người có công với tổng kinh phí trên 26,4 nghìn tỷ đồng; đồng thời, 34.754 hộ người có công và thân nhân liệt sĩ đã được hỗ trợ nhà ở, hoàn thành sớm so với kế hoạch(7). Chính sách ưu đãi người có công tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống chính sách xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực
Giai đoạn 2024 - 2025, công tác phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao tiếp tục được Đảng và Nhà nước chỉ đạo quyết liệt, gắn với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Quy mô và chất lượng đào tạo được nâng lên rõ rệt; tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp năm 2024 đạt khoảng 2,05 triệu người, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo trên 80% với nhiều chương trình tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh và công nghiệp chiến lược.
Việc triển khai đồng bộ giải pháp phát triển thị trường lao động giai đoạn 2022 - 2025, đặc biệt từ sau đại dịch COVID-19 đã góp phần duy trì thị trường lao động theo hướng linh hoạt, hiện đại và bền vững, nâng cao khả năng chống chịu trước “cú sốc” kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động tích cực. Quy mô và chất lượng việc làm tiếp tục được cải thiện. Năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người (tăng 578,3 nghìn người so với năm trước); tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp (2,22%), tỷ lệ thiếu việc làm giảm còn 1,65%, thu nhập bình quân đạt 8,4 triệu đồng/tháng (tăng 8,9% so với năm trước); cơ cấu lao động chuyển dịch rõ nét sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong khi tỷ lệ lao động phi chính thức giảm còn 63,4%(8). Công cụ hỗ trợ thị trường lao động tiếp tục phát huy hiệu quả, đặc biệt là tín dụng chính sách tạo việc làm với doanh số cho vay năm 2024 đạt 22.625 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2025 đạt 17.443 tỷ đồng, hỗ trợ tạo và duy trì việc làm cho hơn 600 nghìn người lao động; hệ thống dịch vụ việc làm được hiện đại hóa, riêng năm 2025 đã tư vấn cho 3,8 triệu lượt người và giới thiệu việc làm cho trên 1 triệu người lao động; đưa hơn 144 nghìn người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2025(9), góp phần nâng cao kỹ năng, thu nhập cho người lao động và chất lượng nguồn nhân lực.
Hệ thống an sinh xã hội góp phần củng cố ổn định xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Thời gian qua, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả quan trọng, khẳng định vai trò trụ cột của hệ thống an sinh xã hội và tiến trình hướng tới bao phủ toàn dân. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội được mở rộng rõ rệt, tính đến cuối năm 2025 có khoảng 21,34 triệu người tham gia, chiếm 45,04% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 3,17 triệu người, vượt mục tiêu đề ra(10). Đặc biệt, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ 1-7-2025) tạo bước đột phá trong mở rộng thụ hưởng an sinh hưu trí, dự kiến nâng tỷ lệ bao phủ hưu trí lên khoảng 50%. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục phát huy vai trò “lưới đệm an sinh” thị trường lao động, với khoảng 35% lực lượng lao động tham gia(11). Bảo hiểm y tế toàn dân đạt kết quả nổi bật với khoảng 97,42 triệu người tham gia (chiếm 95,16% dân số)(12), vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết số 68/NQ-CP. Hệ thống bảo hiểm xã hội chuyển mạnh từ bảo đảm sang phát triển, vừa bảo vệ người dân trước rủi ro, vừa tạo nền tảng an sinh bền vững cho ổn định, phát triển đất nước.
Đến nay, chính sách bảo trợ xã hội đã bao phủ khoảng 20% dân số với khoảng 4,5 triệu người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên và hưu trí xã hội, tăng 43,77% so với năm 2021; 100% địa phương thực hiện chi trả không dùng tiền mặt hoặc qua hệ thống bưu điện. Trợ giúp xã hội khẩn cấp được tổ chức kịp thời. Từ năm 2021 đến nay, Nhà nước đã hỗ trợ 237.778,5 tấn gạo, cứu đói cho gần 3,9 triệu hộ. Hàng nghìn tỷ đồng đã được huy động để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa. Chính sách đối với người cao tuổi và người khuyết tật tiếp tục được mở rộng, với 95% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, khoảng 2 triệu người cao tuổi và 1,71 triệu người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng(13).
Công tác giảm nghèo bền vững tiếp tục được triển khai theo cách tiếp cận đa chiều, đồng bộ và đổi mới, gắn việc đầu tư phát triển hạ tầng, cùng với việc tạo sinh kế, việc làm, đào tạo nghề. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều cả nước còn khoảng 0,9% - 1%, bình quân giai đoạn 2021 - 2025 giảm khoảng trên 1%/năm, đạt và vượt chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã đầu tư, sửa chữa gần 5.000 công trình hạ tầng thiết yếu, triển khai hơn 10.500 mô hình, dự án giảm nghèo, thu hút trên 205.000 hộ tham gia, góp phần cải thiện sinh kế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo chuyển biến rõ nét về điều kiện sống, khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn(14).
Dịch vụ xã hội cơ bản được mở rộng và nâng cao chất lượng, hướng tới nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân
Trong lĩnh vực giáo dục, Chính phủ duy trì tỷ lệ chi ngân sách tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, bảo đảm giáo dục bắt buộc, phổ cập và miễn học phí cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi, đồng thời ưu tiên đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo; kiên cố hóa trường, lớp học được đẩy mạnh, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 xóa bỏ hoàn toàn phòng học tạm. Lĩnh vực y tế được củng cố theo hướng công bằng và chất lượng với hơn 88% phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất bốn lần trong ba thời kỳ thai nghén, khoảng 96% ca sinh có cán bộ y tế được đào tạo trực tiếp đỡ đẻ và 42,5% người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ; 51,61% phụ nữ mang thai và 47,01% trẻ sơ sinh được sàng lọc bệnh, tỷ số giới tính khi sinh giảm còn 111,3 bé trai/100 bé gái, tiệm cận mục tiêu đề ra(15).
Thực hiện chính sách phúc lợi xã hội về nhà ở trở thành điểm sáng nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, với 334.234 căn nhà được xây mới và sửa chữa (tính đến tháng 8-2025), hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi toàn quốc, sớm hơn 5 năm 4 tháng so với Nghị quyết số 42-NQ/ TW; đồng thời, phát triển nhà ở xã hội đạt bước tiến quan trọng với 644 dự án, quy mô 580.109 căn hộ, vượt chỉ tiêu giai đoạn đến năm 2025. Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã góp phần bảo tồn di sản, nâng cao mức thụ hưởng văn hóa và gắn kết với phát triển du lịch cộng đồng, đồng thời củng cố đời sống tinh thần người dân nông thôn. Quyền tiếp cận thông tin của người dân được chú trọng với sóng băng rộng di động bao phủ 99,6% thôn, bản; cáp quang đạt 96,36% và 96% xã có đài truyền thanh, trong đó 41,4% ứng dụng công nghệ số, tạo nền tảng thu hẹp khoảng cách số; năm 2025 đã có 68% hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn, cùng với việc triển khai chương trình cấp nước an toàn và ứng phó với biến đổi khí hậu(16).
Bên cạnh những thành tựu quan trọng, chính sách xã hội hiện nay vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đòi hỏi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đó là chênh lệch giàu - nghèo và khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác giảm nghèo ở một số địa bàn chưa bền vững. Một bộ phận người dân chưa có khả năng tự bảo đảm an sinh lâu dài. Thị trường lao động chịu áp lực lớn từ chuyển dịch cơ cấu và quá trình chuyển đổi số; tỷ lệ người lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở một số địa phương, việc tổ chức thực hiện chính sách xã hội còn phân tán, thiếu đồng bộ; chất lượng cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn. Thực tế này cho thấy yêu cầu cấp thiết tiếp tục đổi mới căn bản chính sách xã hội, hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị và huy động nguồn lực, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả chính sách xã hội trong kỷ nguyên mới
Việt Nam đang vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc. Trong kỷ nguyên mới, mục tiêu phát triển cao nhất mà Đảng ta kiên định theo đuổi là vì hạnh phúc của nhân dân, xây dựng một xã hội ổn định, tiến bộ, công bằng, nơi mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của đổi mới và phát triển. Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm: “Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững; nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(17). Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW, việc hoàn thiện chính sách xã hội trong kỷ nguyên mới đòi hỏi một sự chuyển đổi căn bản về tư duy và cách tiếp cận theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Chính sách xã hội phải được thiết kế theo tinh thần vừa bảo đảm an sinh, vừa thúc đẩy phát triển; vừa hỗ trợ, vừa tạo cơ hội; vừa bảo vệ, vừa khơi dậy tiềm năng, trách nhiệm và đóng góp của mỗi người dân; gắn chặt với quản lý phát triển xã hội bền vững.
Việc hoàn thiện chính sách xã hội không chỉ là nhiệm vụ trước mắt, mà còn là chiến lược lâu dài, gắn với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự tham gia chủ động của xã hội và sự đồng thuận của nhân dân. Trong giai đoạn tới, cần tập trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và đổi mới quản lý nhà nước về chính sách xã hội. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách xã hội theo hướng đồng bộ, nhất quán và linh hoạt, làm nền tảng xây dựng hệ thống chính sách đa tầng, bao trùm và bền vững. Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, người cao tuổi, giảm nghèo và nhà ở xã hội; trong đó, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, mở rộng diện bao phủ, bảo đảm cân đối dài hạn của quỹ an sinh. Đổi mới quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo, hiện đại; đẩy mạnh chuyển đổi số, minh bạch hóa dữ liệu, nâng cao chất lượng dự báo chính sách gắn với quy hoạch dân số và thị trường lao động. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội, gắn cải cách thủ tục hành chính với nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ người dân.
Thứ hai, mở rộng bao phủ an sinh xã hội theo hướng toàn dân, bao trùm và bền vững. Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân, trước mắt tập trung mở rộng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo đảm tiếp cận an sinh cho lao động khu vực phi chính thức và nhóm yếu thế. Nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu, có lộ trình rõ ràng, ưu tiên người nghèo, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật và nhóm dễ bị tổn thương. Thực hiện nhất quán chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau”, thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ xã hội giữa vùng, miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm đầu tư hài hòa cho cả tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội, hướng đến mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và bao phủ an sinh xã hội toàn dân.
Các bác sĩ chăn sóc trẻ sơ sinh _Ảnh: TTXVN
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm bền vững. Xác định đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển bền vững. Ưu tiên phát triển giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và y tế; gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, kỹ năng xanh, kỹ năng chuyển đổi nghề, nhất là cho lao động nông thôn, phụ nữ và thanh niên. Phát triển thị trường lao động hiện đại, linh hoạt; khuyến khích tạo việc làm bền vững gắn với tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Tận dụng nền tảng số, công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data),... tạo sức bật nhanh chóng trong môi trường làm việc số hóa hiện nay, vừa nâng cao hiệu quả công việc, vừa tăng lợi thế cạnh tranh lâu dài trong kỷ nguyên số.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và hiện đại hóa cung ứng dịch vụ xã hội. Phát triển và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và an sinh xã hội; tăng cường liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành để nâng cao hiệu quả quản lý và hạn chế trùng lắp chính sách. Mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực bảo hiểm, trợ giúp xã hội, y tế, giáo dục; từng bước xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội thông minh, lấy người dân làm trung tâm, nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận.
Thứ năm, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho chính sách xã hội. Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách nhà nước trong an sinh xã hội, ưu tiên cho giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội và chăm sóc nhóm yếu thế. Đồng thời, khuyến khích xã hội hóa, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng và hợp tác quốc tế; sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, gắn với nâng cao năng lực hệ thống và hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, chồng chéo. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về quyền và trách nhiệm trong thụ hưởng chính sách xã hội, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi.
Thứ sáu, gắn kết chặt chẽ chính sách xã hội với chiến lược phát triển bền vững. Lồng ghép mục tiêu an sinh xã hội với tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; phát triển sinh kế bền vững cho người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương; nâng cao năng lực ứng phó và khả năng chống chịu của hệ thống an sinh trước cú sốc kinh tế - xã hội và thiên tai. Gắn kết chặt chẽ chính sách xã hội với chiến lược phát triển bền vững là chủ trương cốt lõi, lấy con người làm trung tâm, coi tiến bộ và công bằng xã hội là động lực phát triển, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, nhằm xây dựng xã hội bao trùm, nhân văn trong kỷ nguyên mới.
Định hướng và giải pháp trên cần được cụ thể hóa thành chương trình hành động dài hạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, gắn quyết tâm chính trị cao, tổ chức thực hiện hiệu quả và sự đồng thuận xã hội. Phát triển bền vững và bao trùm về xã hội là con đường hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, công bằng, dân chủ, văn minh, nơi người dân được sống an toàn, hạnh phúc và không ai bị bỏ lại phía sau./.
-------------------------
(1) Xem: Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24- 11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, https:// xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet- ve-tiep-tuc-doi-moi-nang-cao-chat-luong-chinh-sach- xa-hoi-119231204085632194.htm
(2) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 36 - 38, 104 - 110
(3) Xem: Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 10-6-2012, Hội nghị Trung ương 5, khóa XI, “Về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi- bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-15-nqtw-ngay-1062012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-hanh-trung-uong- dang-khoa-xi-ve-mot-so-van-de-ve-557
(4) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 111 - 113
(5) Xem: Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, Tlđd
(6) Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 9-5-2024, của Chính phủ, “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24 tháng 11 năm 2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”
(7) Xem: Bộ Nội vụ (năm 2025): Báo cáo tổng hợp thực hiện chính sách ưu đãi người có công giai đoạn 2023 – 2025
(8) Xem: Cục Thống kê - Bộ Tài chính: “Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025”, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc- thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh- dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/
(9) Xem: Bộ Nội vụ: “Báo cáo Tổng kết năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của ngành nội vụ”, https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho- tro-phap-luat/toan-van-bao-cao-12845bcbnv-ve-ket- qua-cong-tac-nam-2025-va-nhiem-vu-cong-tac-nam- 2026-cua-nganh-no-249225.html
(10) Xem: Báo cáo số 752/BC-CP, ngày 5-9-2025, của Chính phủ gửi Quốc hội, “Về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội”
(11) Xem: Bộ Nội vụ: “Báo cáo Tổng kết năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của ngành nội vụ”, Tlđd
(12) Xem: Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” đến năm 2025
(13) , (14), (15), (16) Xem: Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” đến năm 2025
(17) Xem: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20-1-2026, https://www.tapchicongsan. org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/ V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien- trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam
Nguồn: Tapchicongsan.org.vn