TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Giới thiệu về tỉnh
Đăng ngày: 10/05/2026 - Lượt xem: 60
Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn: Khẳng định vị thế văn hoá và trí tuệ Việt Nam - Bài 1: Từ tinh hoa trí tuệ Việt Nam đến danh nhân văn hoá thế giới

.

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) được mệnh danh là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến, một bậc đại khoa, đại trí, đại tài trong lịch sử dân tộc. Ông sinh ra tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên) và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, sớm được nuôi dưỡng trong môi trường hiếu học. Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, ham học và có trí nhớ phi thường. Những giai thoại dân gian kể rằng ông có thể “đọc một biết mười”, tiếp thu kiến thức nhanh chóng và sâu sắc. Tuy nhiên, điều làm nên một danh nhân không chỉ là thiên tư mà còn là sự bền bỉ, khổ luyện trong học tập. Con đường khoa cử của ông ghi dấu ấn từ rất sớm đó là đỗ Giải nguyên năm 18 tuổi, đỗ Tiến sĩ năm 27 tuổi. Ông làm quan thời Lê Trung Hưng, từng giữ chức Bồi tụng, Công bộ Thượng thư, từng được cử đi sứ Trung Quốc. Lê Quý Đôn được người đương thời tôn vinh qua câu nói: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” (Thiên hạ có điều gì không biết, hãy hỏi Bảng Đôn). Đây không chỉ là lời ca ngợi trí tuệ cá nhân mà còn phản ánh vị thế đặc biệt của một học giả có khả năng bao quát hầu hết lĩnh vực tri thức của thời đại.

Với kiến thức uyên bác của mình, Lê Quý Đôn còn khẳng định vị thế của một học giả lớn, vượt khỏi khuôn khổ Nho học truyền thống để tiếp cận tri thức theo hướng toàn diện và hệ thống. Ông để lại khoảng 40 đầu sách với nội dung phong phú, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như: sử học, văn học, triết học, địa lý, nông nghiệp, kinh tế… Các tác phẩm tiêu biểu như: Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Đại Việt thông sử… không chỉ là công trình nghiên cứu mà còn là kho tri thức tổng hợp, phản ánh toàn diện đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII.

Điểm nổi bật trong các công trình nghiên cứu của ông là tính hệ thống và phương pháp luận khoa học. Ông không chỉ ghi chép mà còn phân tích, so sánh, tổng hợp, thể hiện tư duy biện chứng và tinh thần phản biện, đó là những yếu tố cốt lõi của khoa học hiện đại. Nhờ đó, các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị ở thời điểm ra đời mà còn giữ nguyên ý nghĩa đối với hậu thế.

Không chỉ là nhà nghiên cứu, Lê Quý Đôn còn đưa trí thức gắn bó mật thiết với thực tiễn. Ông quan tâm sâu sắc đến nông nghiệp, kinh tế, địa lý; ghi chép tỉ mỉ về sản vật, điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán của các vùng miền. Những tư liệu này không chỉ có giá trị khoa học mà còn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tư tưởng “học để hành”, “tri hành hợp nhất” mà ông đề cao đã vượt qua giới hạn thời đại, trở thành triết lý giáo dục có giá trị lâu dài, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi tri thức là nền tảng của phát triển.

 

Việc UNESCO thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cộng đồng học thuật quốc tế, khi lần đầu tiên một học giả thời phong kiến Việt Nam được ghi nhận ở tầm vóc danh nhân văn hóa toàn cầu.

Điều này cũng khẳng định sự đánh giá cao của quốc tế đối với những giá trị khoa học, văn hóa, giáo dục của Việt Nam, với cá nhân Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; góp phần quảng bá, giới thiệu lịch sử văn hóa của Việt Nam nói chung, của tỉnh Hưng Yên nói riêng. Đồng thời thực hiện chủ trương phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Hưng Yên hướng đến chân - thiện - mỹ; lấy con người làm trung tâm trong chính sách phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

 

 

Sự kiện này cũng khẳng định di sản mà Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn để lại không chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia mà còn mang ý nghĩa đối với sự phát triển chung của tri thức nhân loại. Nhiều học giả quốc tế, đặc biệt là các nhà nghiên cứu Pháp, đánh giá cao ông như một nhà thư tịch học, nhà khảo cứu lịch sử - địa chí xuất sắc. Các công trình của ông trở thành nguồn tư liệu quan trọng giúp thế giới hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam.

Ông Đinh Toàn Thắng, Đại sứ Việt Nam tại Pháp nhận xét: Không chỉ nổi danh trong nước, Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn còn được đông đảo học giả quốc tế biết đến và đánh giá cao. Nhiều học giả hiện đại ví ông như một “Montesquieu của Việt Nam”, người góp phần dẫn dắt dân tộc tiếp cận tinh thần khai sáng bằng con đường tri thức.

Sinh ra từ vùng đất giàu truyền thống hiếu học, Lê Quý Đôn đã vươn tới tầm vóc Danh nhân văn hóa thế giới. Vì vậy, sự kiện UNESCO vinh danh ông không chỉ là niềm tự hào của giới học thuật mà còn lan tỏa sâu rộng trong đời sống Nhân dân, đặc biệt tại quê hương Lê Quý Đôn. Ông Lê Quý Tự, hậu duệ đời thứ 8 của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn chia sẻ: Dòng họ rất tự hào và càng có thêm động lực giáo dục con cháu noi gương cụ Lê Quý Đôn: hiếu học, sống có trách nhiệm và đóng góp tích cực cho xã hội.

Theo ông Bùi Quang Ánh, Phó Chủ tịch UBND xã Lê Quý Đôn: Việc UNESCO vinh danh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là niềm vinh dự to lớn, đồng thời là dấu mốc lịch sử đặc biệt đối với địa phương. Sự kiện này khơi dậy niềm tự hào sâu sắc khi trí tuệ Việt Nam được khẳng định ở tầm vóc quốc tế. Dự kiến, lễ kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn sẽ được tổ chức vào tháng 8/2026. Đây là sự kiện trọng đại mở ra cơ hội quảng bá hình ảnh, thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa - tâm linh, thu hút du khách và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến với xã Lê Quý Đôn. Cùng với đó, địa phương đang triển khai kế hoạch quy hoạch, trùng tu khu di tích nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Những năm qua, công tích và sự nghiệp khoa học của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn đã và đang được suy tôn qua nhiều hình thức. Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 40 ngôi trường mang tên Lê Quý Đôn, trong đó tỉnh Hưng Yên có gần 10 ngôi trường mang tên người thầy vĩ đại này. Những ngôi trường ấy không chỉ là nơi nuôi dưỡng tri thức mà còn là điểm tựa tinh thần, khơi dậy khát vọng vươn lên bằng con đường học vấn cho thế hệ trẻ. Tên tuổi của ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường, giải thưởng khoa học, hội thảo và chương trình học, minh chứng cho sức lan tỏa bền bỉ của một danh nhân văn hóa với giá trị tri thức trường tồn.

Nguồn: Baohungyen.vn

Tin liên quan